Tóm tắt
Khảo sát trên 396 phụ nữ 15–49 tuổi đã có quan hệ tình dục đến khám tại Đơn vị Sản phụ khoa – Phòng khám Đa khoa Trường ĐHYK Phạm Ngọc Thạch (10/2022–3/2023) ghi nhận tỷ lệ viêm âm đạo (VÂĐ) 44,7%. Tác nhân chủ yếu là vi khuẩn (68,4%). Các yếu tố nguy cơ có ý nghĩa thống kê gồm: điều trị bệnh trong 6 tháng gần đây (OR=1,89; p=0,006), cách dùng dung dịch vệ sinh (OR=2,99; p=0,007), VÂĐ ≥4 lần/năm (OR=4,51; p=0,001), không dùng bao cao su khi quan hệ tình dục (OR=2,68; p<0,001). Hơn một nửa trường hợp viêm âm đạo không có triệu chứng. Khuyến nghị tăng cường tư vấn phòng ngừa tại các cơ sở khám phụ khoa.
Đặt vấn đề
Tiết dịch âm đạo bất thường, ngứa hoặc bỏng rát âm hộ – âm đạo là than phiền thường gặp ở phụ nữ, đặc biệt trong độ tuổi sinh sản. Viêm âm đạo chiếm 40–50% nguyên nhân nhiễm khuẩn đường sinh dục dưới, còn lại là vi nấm (20–25%), trùng roi (15–20%) và 5–10% không xác định được tác nhân. Tuy lành tính, VÂĐ có thể gây khó chịu kéo dài, ảnh hưởng quan hệ tình dục, giảm chất lượng sống và tăng nguy cơ vô sinh, hiếm muộn. Nhiều nghiên cứu trong nước cho thấy tỷ lệ VÂĐ dao động rộng: 41–72% tùy địa bàn, đối tượng nghiên cứu. Tại TP.HCM, dữ liệu cộng đồng còn hạn chế. Khảo sát này nhằm xác định tỷ lệ và yếu tố nguy cơ của VÂĐ ở phụ nữ 15–49 tuổi đến khám tại Phòng khám Đa khoa Trường ĐHYK Phạm Ngọc Thạch (ĐHYK PNT).

Đối tượng và phương pháp
-
Đối tượng: Phụ nữ 15–49 tuổi, đã có quan hệ tình dục, không mang thai, không hành kinh, không đang điều trị VÂĐ, đồng ý tham gia.
-
Loại trừ: Ngoài độ tuổi, chưa QHTD, đang có kinh hoặc ra huyết, thụt rửa âm đạo trong 48 giờ trước, không đọc hiểu tiếng Việt.
-
Thiết kế: Nghiên cứu mô tả cắt ngang, chọn mẫu toàn bộ 396 người trong 10/2022–3/2023.
-
Thu thập số liệu: Phỏng vấn bằng bộ câu hỏi chuẩn hóa (đã thẩm định chuyên gia và thử nghiệm 30 trường hợp), khám phụ khoa, lấy mẫu dịch âm đạo soi tươi trong 2 giờ.
-
Xử lý: Nhập liệu và phân tích SPSS 26.0.
-
Đạo đức: Giải thích mục đích, bảo mật thông tin cá nhân.
Kết quả
Đặc điểm nhân khẩu học:
-
Nhóm tuổi phổ biến nhất 30–39 (48,2%).
-
75,6% có trình độ đại học trở lên; 31,1% là nhân viên y tế; 43,2% nhân viên văn phòng.
-
79,8% đã kết hôn; 82,1% sống ở TPHCM.
-
25% có bệnh trong 6 tháng gần đây.
Tiền sử sản phụ khoa:
-
76,3% đã sinh 1–2 con; 68,7% khám phụ khoa định kỳ.
-
85,6% từng bị VÂĐ; 10,9% VÂĐ ≥4 lần/năm.
Hành vi vệ sinh – ngừa thai:
-
75,3% dùng dung dịch vệ sinh; trong đó 13,1% thụt rửa bên trong.
-
Chỉ 17,2% luôn dùng bao cao su khi QHTD; 61,9% vệ sinh trước và sau QHTD.
Triệu chứng và khám lâm sàng:
-
66,4% không than phiền khi đến khám.
-
29% ngứa da âm hộ; 2,8% ngứa, bỏng rát âm đạo.
-
81% âm hộ bình thường khi khám; 10,4% âm hộ viêm đỏ; 8,6% âm hộ – âm đạo viêm đỏ.
-
Dịch âm đạo chủ yếu trắng đục (65,9%), nhày trong (23,5%).
Tỷ lệ VÂĐ và đặc điểm:
-
44,7% (177/396) bị VÂĐ.
-
51,9% nhóm tuổi 30–39; 57,6% không có triệu chứng.
-
Tác nhân: vi khuẩn 68,4%, vi nấm 31,6%.
Phân tích yếu tố nguy cơ:
-
Điều trị bệnh ≤6 tháng: OR=1,89; KTC 95%: 1,19–3,0; p=0,006.
-
Cách dùng dung dịch vệ sinh (thụt rửa): OR=2,99; KTC 95%:1,34–6,68; p=0,007.
-
VÂĐ trong vòng 1 tháng: OR=8,12; KTC 95%:1,8–36,4; p=0,006.
-
VÂĐ 2–6 tháng: OR=2,17; KTC 95%:1,25–3,78; p=0,006.
-
VÂĐ ≥4 lần/năm: OR=4,51; KTC 95%:1,92–10,6; p=0,001.
-
Không dùng bao cao su: OR=2,68; KTC 95%:1,56–4,63; p<0,001.
Không tìm thấy liên quan giữa VÂĐ và học vấn, nghề nghiệp, biện pháp tránh thai, thời điểm vệ sinh trước/sau QHTD.

Bàn luận
Về nhân khẩu học: Khảo sát tập trung ở nhóm 30–39 tuổi, có trình độ đại học, khác với các nghiên cứu trước ở Đồng Nai hay Trà Vinh nơi đối tượng ít học vấn, nghề lao động phổ thông. Điều này phản ánh khác biệt điều kiện tiếp cận dịch vụ y tế.
Tỷ lệ VÂĐ: 44,7% tương đương Lê Hiếu Hạnh (41,49%) nhưng thấp hơn Nguyễn Thị Kim Loan (72,4%) và Lâm Hồng Trang (55,04%). So với nước ngoài, tỷ lệ dao động 26–38% (Cameroon, Ấn Độ, Yemen). Như vậy, VÂĐ vẫn phổ biến ở phụ nữ thành thị có trình độ cao.
Tác nhân gây bệnh: Vi khuẩn chiếm 68,4% tương tự Nguyễn Thị Kim Loan (65,5%) nhưng không ghi nhận Trichomonas (4,7% ở nghiên cứu kia). Trong khi đó Trần Đình Hùng (2022) báo cáo vi nấm chiếm 80,69%. Điều này cho thấy sự khác biệt tùy vùng, nhóm nghiên cứu.
Yếu tố nguy cơ:
-
Điều trị bệnh 6 tháng: Dùng kháng sinh dài ngày, đái tháo đường, điều trị ung thư làm tăng nguy cơ. Lê Hiếu Hạnh (2018) cũng ghi nhận OR 4,13 cho đái tháo đường.
-
Thụt rửa âm đạo: Tăng nguy cơ VÂĐ 2,99 lần, phù hợp với các nghiên cứu trong và ngoài nước.
-
Tái phát: VÂĐ gần đây và ≥4 lần/năm làm tăng nguy cơ, tương tự ghi nhận của Ahmed M. Abbas (Ai Cập) và Yiewou Kamga (Cameroon).
-
Bao cao su: Không sử dụng tăng nguy cơ VÂĐ 2,68 lần. Lê Hiếu Hạnh cho thấy dùng BCS giảm nguy cơ OR=0,48.
Khảo sát này không thấy liên quan giữa học vấn, nghề nghiệp với VÂĐ – có thể do đặc điểm mẫu khá đồng nhất về trình độ và nghề nghiệp.
Ý nghĩa lâm sàng: Hơn 57% VÂĐ không có triệu chứng – nhấn mạnh vai trò khám phụ khoa định kỳ và xét nghiệm để phát hiện. Đồng thời, chỉ 17% luôn dùng bao cao su, cho thấy khoảng trống trong tư vấn phòng ngừa bệnh lây truyền.
Kết luận
-
Tỷ lệ VÂĐ 44,7% ở phụ nữ 15–49 tuổi đến khám tại Phòng khám Đa khoa Trường ĐHYK PNT; phần lớn không có triệu chứng khi đến khám.
-
Tác nhân chủ yếu vi khuẩn (68,4%).
-
Các yếu tố nguy cơ có ý nghĩa: điều trị bệnh trong 6 tháng gần đây, thụt rửa bên trong bằng dung dịch vệ sinh, VÂĐ tái phát (gần đây hoặc ≥4 lần/năm), không sử dụng bao cao su khi QHTD.
Khuyến nghị
-
Cho bác sĩ: Khi khám phụ khoa, nên hỏi kỹ tiền sử điều trị bệnh, thói quen vệ sinh, hành vi tình dục để tư vấn giảm nguy cơ VÂĐ.
-
Cho cơ sở y tế: Xây dựng tài liệu truyền thông, bài viết hướng dẫn vệ sinh vùng kín, lợi ích sử dụng bao cao su, tránh thụt rửa, đăng trên website phòng khám.
-
Cho cộng đồng: Khám phụ khoa định kỳ, không tự ý thụt rửa âm đạo, sử dụng bao cao su khi QHTD để phòng nhiễm khuẩn đường sinh dục dưới.
Nguồn: https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/8082/7136