NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SỬ DỤNG KHÁNG SINH DỰ PHÒNG TRONG PHẪU THUẬT SẢN PHỤ KHOA TẠI CẦN THƠ (2023–2024) VÀ HIỆU QUẢ NÚT MẠCH U CƠ TRƠN TỬ CUNG BẰNG THAY ĐỔI KÍCH THƯỚC HẠT VI CẦU

Tóm tắt

Bài viết tổng hợp hai nghiên cứu mới công bố: (1) đặc điểm sử dụng kháng sinh dự phòng trong phẫu thuật sản phụ khoa tại một bệnh viện ở Cần Thơ (2023–2024) trên 345 ca; (2) hiệu quả điều trị nút động mạch tử cung bằng thay đổi kích thước hạt vi cầu trên 43 bệnh nhân u cơ trơn tử cung tại Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh Hà Nội. Cả hai nghiên cứu góp phần làm rõ thực hành lâm sàng hiện nay và đưa ra bằng chứng về hiệu quả của các can thiệp dự phòng và điều trị trong sản phụ khoa.
Từ khóa: Kháng sinh dự phòng, Cefazolin, nhiễm khuẩn vết mổ, u cơ trơn tử cung, nút động mạch tử cung, hạt vi cầu.

1. Đặt vấn đề

Nhiễm khuẩn vết mổ (NKVM) là biến chứng phổ biến trong phẫu thuật sản phụ khoa, làm tăng chi phí và thời gian điều trị. Kháng sinh dự phòng (KSDP) đã được chứng minh làm giảm đáng kể tỷ lệ NKVM. Tuy nhiên, việc kê đơn sai hoặc không hợp lý có thể dẫn tới kháng thuốc, tăng biến chứng và chi phí. Song song, u cơ trơn tử cung (UCTTC) là khối u lành tính thường gặp nhất ở phụ nữ độ tuổi sinh sản (20–40%), gây rong kinh, thiếu máu, biến dạng tử cung và các biến chứng khi mang thai. Nút động mạch tử cung (UAE) là phương pháp ít xâm lấn đang được ứng dụng rộng rãi với tỷ lệ thành công kỹ thuật cao.

Hai nghiên cứu được thực hiện nhằm: (i) xác định đặc điểm sử dụng KSDP trong phẫu thuật sản phụ khoa tại Cần Thơ; (ii) đánh giá hiệu quả UAE với hạt vi cầu kích thước khác nhau trong điều trị UCTTC.

2. Đối tượng và phương pháp

2.1. Nghiên cứu kháng sinh dự phòng

  • Thiết kế: Mô tả cắt ngang, hồi cứu hồ sơ bệnh án (HSBA).

  • Đối tượng: 345 HSBA bệnh nhân phẫu thuật sản phụ khoa có sử dụng KSDP tại Khoa Phụ sản (01/3/2023–01/4/2024).

  • Tiêu chuẩn loại trừ: chuyển khoa, trốn viện, <18 tuổi.

  • Cỡ mẫu: tính theo công thức tỷ lệ (p=0,341), n=345.

  • Phân tích: Microsoft Excel 2016, SPSS 25.0.

Các biến số: tuổi, BMI, bệnh kèm theo, chẩn đoán trước mổ, loại phẫu thuật, thời gian nằm viện, thời điểm và loại kháng sinh dùng.

2.2. Nghiên cứu nút mạch UCTTC

  • Thiết kế: Hồi cứu kết hợp tiến cứu trên 43 bệnh nhân UCTTC (06/2022–12/2023) tại Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh Hà Nội.

  • Đặc điểm: tuổi, triệu chứng, số khối u, kích thước và trọng lượng khối u, số ống hạt dùng, kích thước hạt vi cầu, tỷ lệ giảm trọng lượng sau 6 tháng.

3. Kết quả

3.1. Đặc điểm sử dụng kháng sinh dự phòng

  • Tuổi: 18–35 tuổi chiếm 71,88%; >35 tuổi chiếm 28,12%.

  • BMI: ≥25 chiếm 75,94%.

  • Loại phẫu thuật: sản khoa 98,84%; phụ khoa 1,16%.

  • Bệnh kèm theo: 93,91% không có bệnh kèm; đái tháo đường thai kỳ 1,16%; tăng huyết áp 1,16%.

  • Chẩn đoán trước mổ: vết mổ cũ 54,78%; suy thai 20,58%; chuyển dạ đình trệ 17,39%; ngôi bất thường 4,93%.

  • Thời gian phẫu thuật trung bình: 42,15 ± 0,12 phút.

  • Thời gian nằm viện: ≤5 ngày 84,64%.

  • Nhiễm khuẩn vết mổ: 0,58% (2/345 ca).

Sử dụng kháng sinh:

  • 100% dùng Cefazolin 2g đơn trị liệu, tiêm tĩnh mạch chậm.

  • Thời điểm: 15–30 phút trước rạch da.

  • Không phối hợp kháng sinh khác.

3.2. Hiệu quả nút mạch UCTTC

  • Tuổi trung bình: 40,8 ± 7,1 (22–53 tuổi).

  • Lý do nhập viện: rong kinh 69,8%; đa khối u 51,2%.

  • Khối u: đường kính trung bình 81,8 ± 38,1mm; trọng lượng trung bình 259,9 ± 201,5g.

  • Kích thước hạt vi cầu: 700–900µm sử dụng nhiều nhất; số ống trung bình 3,0 ± 0,5.

  • Hiệu quả: tỷ lệ giảm trọng lượng khối u sau 6 tháng 69,0 ± 11,3%.

  • Nhóm u có tăng tín hiệu T2W và ngấm thuốc mạnh giảm kích thước nhiều hơn nhóm còn lại.

4. Bàn luận

4.1. Kháng sinh dự phòng trong phẫu thuật sản phụ khoa

Kết quả nghiên cứu phù hợp với khuyến cáo của Bộ Y tế (2015, 2023) và hướng dẫn ASHP, ACOG, WHO. Cefazolin – cephalosporin thế hệ 1 – có thời gian tác dụng dài, an toàn, chi phí thấp, phổ rộng trên vi khuẩn thường gặp.

Tỷ lệ NKVM 0,58% thấp hơn nhiều so với tỷ lệ 5–10% theo Bộ Y tế và thấp hơn các nghiên cứu tại Sóc Trăng [4]. Điều này chứng tỏ thực hành kháng sinh dự phòng hợp lý giúp rút ngắn thời gian nằm viện, giảm chi phí và nâng cao chất lượng điều trị.

Tuy nhiên, nghiên cứu chỉ sử dụng một loại kháng sinh, chưa đánh giá các yếu tố nguy cơ kháng thuốc dài hạn. BMI ≥25 chiếm tỷ lệ cao (75,94%) có thể ảnh hưởng tới liều kháng sinh. Việc theo dõi hiệu quả ở nhóm bệnh nhân đặc biệt (béo phì, bệnh kèm) cần nghiên cứu sâu hơn.

4.2. Nút động mạch tử cung với hạt vi cầu

UCTTC ảnh hưởng đến 20–40% phụ nữ độ tuổi sinh sản, có thể gây rong kinh, thiếu máu, vô sinh, biến chứng thai kỳ. UAE là phương pháp thay thế phẫu thuật, ít xâm lấn, bảo tồn tử cung.

Kết quả nghiên cứu Tâm Anh cho thấy tỷ lệ giảm trọng lượng khối u 69% sau 6 tháng, tương đương hoặc cao hơn nhiều báo cáo quốc tế (60–70%). Hạt vi cầu 700–900µm cho kết quả tốt và an toàn. Nhóm u tăng tín hiệu T2W, ngấm thuốc mạnh giảm kích thước nhiều hơn – đây có thể là yếu tố dự báo đáp ứng.

Phương pháp này giảm biến chứng, thời gian hồi phục nhanh, phù hợp phụ nữ còn nhu cầu sinh sản. Tuy nhiên cỡ mẫu 43 còn nhỏ, cần nghiên cứu dài hạn để đánh giá tái phát, tác động lên khả năng sinh sản và chất lượng sống.

5. Kết luận

Hai nghiên cứu tại Việt Nam khẳng định:

  1. Kháng sinh dự phòng: sử dụng Cefazolin 2g tiêm tĩnh mạch chậm, 15–30 phút trước rạch da trong phẫu thuật sản phụ khoa giúp tỷ lệ NKVM rất thấp (0,58%), thời gian nằm viện ngắn (84,64% ≤5 ngày).

  2. Nút mạch UCTTC: thay đổi kích thước hạt vi cầu (700–900µm) đạt hiệu quả giảm trọng lượng khối u 69% sau 6 tháng, là phương pháp an toàn, hiệu quả cho UCTTC có triệu chứng.

Cả hai nghiên cứu cung cấp bằng chứng thực tiễn để các cơ sở y tế Việt Nam hoàn thiện phác đồ KSDP trong phẫu thuật sản phụ khoa và mở rộng ứng dụng UAE trong điều trị UCTTC.

Nguồn: san khoa 2

Facebook
Twitter
LinkedIn

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *